Cá sói biển Đại Tây Dương môi trường sống và sự thật thú vị

Cá sói Đại Tây Dương còn được gọi là cá sói biển, cá da trơn Đại Tây Dương… là loài cá có nguồn gốc từ Bắc Đại Tây Dương. Ngoài vẻ ngoài độc đáo, cá sói còn được phân biệt bởi chất chống đông tự nhiên mà chúng tạo ra để giữ cho máu của chúng di chuyển linh hoạt trong môi trường sống rất lạnh. Chúng cũng là một yếu tố quan trọng trong việc kiểm soát quần thể cua xanh và nhím biển, chúng cũng có thể trở lên mất kiếm soát về số lượng. Sự phát triển của quần thể cá sói cũng là một chỉ số quan trọng để đánh giá các quần thể sống dưới đáy biển, chẳng hạn như cá tuyết Đại Tây Dương.

Sự thật thú vị về cá sói Đại Tây Dương

Cá sói Đại Tây Dương có thân hình thuôn nhọn với đầu tròn lớn và đuôi thon.

Cá sói biển có nhiều hàng răng, một số răng nhô ra khỏi miệng. Đây là đặc điểm phân biệt của cá sói Đại Tây Dương. Cả hàm dưới và hàm trên đều được trang bị từ bốn đến sáu chiếc răng hình nón, khỏe, giống như răng nanh. Phía sau răng nón ở hàm trên có ba hàng răng nghiền. Hàng chính giữa có bốn cặp răng hàm và hàng ngoài có răng hình nón cùn. Hàm dưới có hai hàng răng hàm nằm sau các răng hình nón. Cổ họng của cá cũng rải rác những chiếc răng cưa.

cá sói đại tây dương

Con cá trưởng thành có màu xám xanh và mặt dưới của cơ thể chúng thường nhạt hơn mặt trên.

Cá trưởng thành có một loạt các mảng dọc sẫm màu chạy dọc theo chiều dài cơ thể của chúng.

Ngực to tròn và hoàn toàn không có vây bụng. Dạng thân hình tù, giống cá chình khiến cá bơi chậm, nhấp nhô từ bên này sang bên kia, giống như một con lươn.

Con cá sói biển lớn nhất được ghi nhận có chiều dài 1,5 m và nặng gần 18 kg.

Môi trường sống của cá sói Đại Tây Dương

Cá sói Đại Tây Dương sinh sống ở cả bờ biển phía tây và phía đông của Đại Tây Dương. Ở phía tây Đại Tây Dương, chúng được nhìn thấy về phía bắc đến eo biển Davis, thuộc lãnh thổ Nunavut của Canada, tập trung tại các bờ biển Greenland, Newfoundland và Nova Scotia, kéo dài về phía nam tới tận Cape Cod.

Mặc dù chúng hiếm khi được nhìn thấy ở phía nam Cape Cod, nhưng đã có nhiều người nhìn thấy chúng ở New Jersey. Mật độ dày đặc nhất là ở Georges Bank, Vịnh Maine và Great South Channel.

Ở phía đông Đại Tây Dương, chúng sinh sống trải dài từ Biển Trắng của Nga và Novaya Zemlya, qua các nước Bắc Âu và quần đảo Anh, đến Vịnh Biscay.

Cá sói biển Đại Tây Dương chủ yếu là loài cá ít di chuyển, hiếm khi thấy chúng di chuyển khỏi ngôi nhà bằng đá của chúng. Chúng là loài sinh vật sinh sống chủ yếu dưới đáy đại dương, thường xuyên xuất hiện trong các ngóc ngách và hang động nhỏ.

Chúng thích nước lạnh, ở độ sâu từ 20 đến 500 m. Chúng thường được tìm thấy ở nhiệt độ nước từ −1 đến 11 ° C. Vì chúng có thể sống ở những vùng nước gần như đóng băng, để giữ cho máu di chuyển trơn tru, chúng có chứa một chất chống đông tự nhiên.

Cá sói biển phương bắc có thịt lỏng sệt, nhưng các loài khác được coi là thực phẩm, cả tươi và bảo quản. Chúng được bán trên thị trường ở Anh với tên gọi “Scotch halibut” và “Scarborough woof”, hoặc đơn giản là “woof”.

Dầu chiết xuất từ gan cá sói biển được cho là có chất lượng tương đương với dầu gan cá tuyết tốt nhất.

Ở Iceland, loài này được gọi là steinbítur , dịch theo nghĩa đen là “chó đá”.

Cá sói Đại Tây Dương ăn gì?

Cá sói Đại Tây Dương sử dụng bộ hàm khỏe của chúng để ăn các loài nhuyễn thể có vỏ cứng, động vật giáp xác… Chúng không ăn các loài cá khác. Cá sói thường ăn các loài váng lớn (Buccinum ), sò huyết, trai biển, cua lớn, sao biển, nhím biển. Chúng là kẻ thù của nhím biển và cua xanh.

cá sói biển

Cách thức thụ tinh cho trứng của cá sói Đại Tây Dương cũng là một cách để phân biệt chúng với nhiều loài cá. Thay vì cá cái gửi trứng của mình ra biển khơi để cá đực thụ tinh, trứng được thụ tinh bên trong và cả cá cái và cá đực ở lại với tổ và bảo vệ trứng trong khoảng thời gian 4 tháng, cho đến khi cá con đủ mạnh để tự sống một mình.

Trứng của cá sói biển có đường kính 5,5–6,0 mm, nằm trong số những quả trứng cá lớn nhất được biết đến, có màu vàng và đục. Những quả trứng được đẻ dưới đáy đại dương, thường trong bầy nước, bao quanh bởi rong biển và đá. Cá sói Đại Tây Dương trưởng thành tương đối muộn, khi chúng được 6 tuổi.

Tình trạng bảo tồn cá sói biển

Theo dữ liệu khoa học, dân số cá sói Đại Tây Dương đã giảm mạnh do tình trạng đánh bắt quá mức. Con người cũng phá vỡ môi trường sống dưới đáy biển của cá sói.

Theo số liệu do Cục Nghề cá Biển Quốc gia Hoa Kỳ tổng hợp, kể từ năm 1983, lượng đánh bắt cá sói Đại Tây Dương từ các tàu đánh cá của Hoa Kỳ đã giảm 95%, còn 64,7 tấn vào năm 2007.

Năm 1950, khi NMFS bắt đầu hoạt động, 1.098 tấn cá sói Đại Tây Dương đã được đánh bắt, trị giá 137.008 đô la.

Năm 1970, 271,2 tấn được khai thác.

Năm 1983, số lượng cá sói biển bị đánh bắt đạt ngưỡng 1.207 tấn, mang về 455.291$.

Đến năm 1990, lượng khai thác giảm xuống còn 400 tấn, và đến năm 2002 chỉ còn 154 tấn.

cá sói

Dữ liệu có sẵn cuối cùng từ NMFS là vào năm 2007 ở mức 64,7 tấn, trị giá tổng cộng 100.341 đô la.

Hiện tại, cá sói Đại Tây Dương được phân loại là loài cần quan tâm của Cục Thủy sản Biển Quốc gia Hoa Kỳ. Những loài cần quan tâm là những loài mà Cơ quan Quản lý Khí quyển và Đại dương Quốc gia Hoa Kỳ, Cơ quan Thủy sản Biển Quốc gia (NMFS) có một số lo ngại về tình trạng và các mối đe dọa, nhưng không có đủ thông tin để chỉ ra sự cần thiết phải liệt kê các loài thuộc Vùng nguy cấp trong Đạo luật về các loài (ESA).

Vào ngày 1 tháng 10 năm 2008, Tổ chức Luật Bảo tồn (CLF), cùng với Tiến sĩ Erica Fuller và Tiến sĩ Les Watling, đã kiến ​​nghị với NMFS về việc bảo vệ cá sói Đại Tây Dương.

Vào năm 2014, HELCOM đã xếp quần thể cá sói Đại Tây Dương ở Biển Baltic là loài có nguy cơ tuyệt chủng trên thang điểm của Sách Đỏ IUCN.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *